CHUYÊN MỤC HAY

Tài nguyên dạy học

Truyện cười

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hỗ trợ trực tuyến

    • (Võ Đông Hồ)

    Văn hóa khơme Nam bộ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Dự án
    Người gửi: Võ Đông Hồ (trang riêng)
    Ngày gửi: 20h:15' 02-11-2012
    Dung lượng: 113.8 KB
    Số lượt tải: 44
    Số lượt thích: 0 người
    BÀI 3

    VĂN HÓA KHMER NAM BỘ
    I. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI
    KHMER NAM BỘ
    1. Văn hóa khmer trong sự phát triển văn hóa cộng đồng các dân tộc ở Nam Bộ
    - Theo số liệu năm 2009, tổng số dân Khmer ở ĐBSCL là 1.162.695: Trà Vinh 304.848 (30,46%), Sóc Trẳng 373.595 (28,89%), Cà Mau 40.012 (3,33%), Bạc Liêu 67.535 (7,97%), An Giang 90.271 (4,21%), Kiên Giang 214.979 (12,77%), Hậu Giang 26.992 (3,61%), Thành phố Cần Thơ 22.646 (1,91%)
    - Khái niệm người Khmer Nam Bộ dựa trên 2 tiêu chí: xét trong cộng đồng dân tộc Việt Nam → là dân tộc thiểu số, thuộc nhóm Môn – Khmer – xét trong cộng đồng miền → là người Nam Bộ
    - Người Khmer Nam Bộ sống chủ yếu bằng ruộng rẫy, thủ công, buôn bán, CBVC… Tôn giáo chính là Phật giáo, theo phái Nam tông tiểu thừa (99,7%)
    Ngôn ngữ sinh hoạt là tiếng Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, ngữ hệ Nam Á. Chữ viết ghi âm (có sử dụng tiếng Việt, tiếng Hoa trong giao tiếp hàng ngày)
    - Đặc trưng chủng tộc: da đen xám,tóc quăn. Có những họ lớn: Sơn, Kim, Thạch, Danh, Lâm, Châu…Dương (Dương Hòa - KG); Trà, Thuận, Lộc (Trà Tiên, Thuận Yên, Lộc Trĩ - KG)

    - Người Khmer ngay thẳng, thật thà, tôn trọng đạo lí. Hầu hết thanh niên lớn đều vào chùa đi tu. Họ trọng tình nghĩa, chân thành, thương yêu, sẵn sàng giúp đỡ nười thân, bạn bè.
    Do hoàn cảnh, điều kiện sống chưa có đủ KH, ngành nghề tốt nên cuộc sống đa phần còn nghèo (29,80% chưa từng đi học)


    - Người Khmer thường sống ở giồng, gò, làm nhà sàn để chống thú dữ và tránh nước đổ từ sông Mêkông về. Cứ khoảng trên dười 50 hộ →Phum, nhiều hơn → Sóc
    * Văn hóa vật thể
    - Chùa là không gian không thể thiếu, thường có kiến trúc: chính điện, sala, tăng xá, liêu, nhà thiêu, tháp để cốt → mang tính mĩ thuật văn hóa cao.
    Trong chùa có hoa văn,họa tiết, tượng phật, thần Kabil Maha Prum, nữ thần đất, hung thần reahu, tiên nữ, vũ nữ Apsara, chằn, người chim, vua khỉ Hanuman, rồng, rắn, linh thú.
    - Người Khmer đóng góp: nông cụ (phảng), trang phục,phương tiện di chuyển trên sông nước (ghe ngo, tắc rán), nhạc cụ (dàn nhạc ngũ âm: đồng, gỗ, sắt, da, hơi; phách tre, sáo trúc; trống cổ bịt da trăn), món ăn (bún nước lèo, mắm bòhóc, xiêm lo, cốm dẹp)…
    - Công việc chính của người Khmer truyền thống là trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, nghề thủ công (đan lát – xà neng, nóp, cà ràng, cà om…).
    * Văn hóa phi vật thể
    - Về phong tục, tập quán
    + Lễ cưới: trước (thăm viếng, đặt vấn đề, tìm hiểu gia đình…), hôn nhân (nhà trai đưa lễ sang, lễ mở cổng rào, các lễ phụ mang yếu tố tín ngưỡng DG, lễ cầu phúc, lễ cắt bông cau, lễ buộc chỉ tay, lễ chia nước dừa),
    + Lễ tang ma: mời achar yuki hướng dẫn làm tẩn liệm, cúng bái, cầu siêu, cầu phúc, di quan, hỏa táng.

    - Về văn hóa tâm linh: người Khmer theo 2 tôn giáo chính là Bà la môn và phật giáo Nam tông
    - Về lễ tết: Tết Chôl Chnăm Thmây (Tết Nguyên Đán: 13-15/4), Lễ Cúng trăng (15/10 Âlịch), Lễ cúng ông bà (29/8 – 1/9 Âlịch).
    Có 2 lễ lớn là Oóc Omboc, Đua bò
    - Về nhạc điệu, rất phong phú và đa dạng: sân khấu Rôbăm, hát Yukê, múa Răm vông, Lâm lêl, Saravan…, hát dân gian: hát Aday, Chhay Yam, Chôl Chhung…

    - Về sân khấu
    + Rô băm: là loại sân khấu cổ truyền, diễn những vở chuyện cung đình hoặc truyền thuyết mang màu sắc thần thoại.
    + Yukê: là kịch hát có sự tổng hợp từ sân khấu Rô băm, hát Tiều, hát Quảng, hát bội, hát cải lương
    + Múa: rất được yêu thích, uyển chuyển, mang yếu tố nghi lễ, tín ngưỡng, được sử dụng nhiều trong sinh hoạt tập thể. Có 3 điệu múa phổ biến múa Răm vông, Lâm lêl, Saravan
    - Về văn học: lưu giữ được nhiều truyện lịch sử nhằm giải thích các địa danh, về lao động sản xuất, tình yêu, nghề nghiệp. Với đủ thể loại: thơ ca, tục ngữ, câu đố, lời hát, truyện thần thoại, truyện cổ tích, ngụ ngôn, đồng dao.
    + Về văn vần, có các thể loại: hát lao động (nhổ mạ, cấy lúa…), hát nghề nghiệp (gốm, mộc), lễ nghi, hát đối đáp nam nữ…
    + Về văn xuôi: cổ tích, thần thoại, truyện tôn giáo
    - Về ngôn ngữ, người Khmer đóng góp vào kho tàng phương ngữ Nam Bộ nhiều từ ngữ thông dụng
    + Chỉ vật dụng, công cụ, món ăn, thực vật…
    + Chỉ địa danh: Sóc (Sóc Bưng, Sóc Cầu, Sóc Chà, Sóc Trăng…), Trà (Trà Bết, Trà Canh, Trà Cú, Trà Nóc…), Tà (Tà Ân, Tà Linh, Tà Lọt, Tà Săng…), Ô (Ô Bắp, Ô Cà Đa, Ô Môn, Ô Trum…), Cà (Cà Hom, Cà Mau, Cà Săng, Cà Tum)… Phim


    2. Sự giao thoa văn hóa của người Khmer Nam Bộ
    - Trên bình diện tôn giáo: Trước tiên theo Bà la môn→ sau theo phật giáo Nam tông, Tiểu thừa (gần với người kinh theo phật giáo Bắc tông, Đại thừa) → không có sự khác nhau mà giao thoa, giống nhau (thờ cúng ông bà: trước thờ ở chùa, sau thờ ở nhà), thờ nữ thần, bàn thờ thiên, xây miếu thờ Bà, thờ Ông, thờ Quan Công, Quan Thế âm Bồ tát)

    - Về lễ hội: Là sự cùng tham gia của 3 dân tộc, các lễ nghi được đơn giản hóa.
    - Về âm nhạc: người Khmer có dàn nhạc ngũ âm – người kinh có dàn nhạc dây → giống: âm điệu trầm, buồn, phục vụ cho chương trình ca múa cổ điển: người Khmer là Rô băm, Yu kê – người Kinh là Ca cổ, Cải lương → giống: trước thì tập trung diễn tuồng tích xưa, nay thì sáng tác gắn với xã hội.
    3 điệu múa phổ biến múa Răm vông, Lâm lêl, Saravan đều được mọi người thích và sử dụng chung.


    - Trong kiến trúc nhà: Trước là nhà sàn, sau là xây nhà hiện đại.
    Chùa cũng giống nhau về đồ thờ tự nhưng khác nhau về mái ngói, hoa văn trên nóc, mái chùa.
    - Điêu khắc, hội họa ở các chùa Khmer
    + Giống: tranh, tượng phật được thờ
    + Khác: các tranh, tượng thể hiện các nhân vật thần, nguồn gốc… về các chi tiết thể hiện
    - Về ngữ văn: đều có các thể loại, nội dung giống nhau→ vay mượn để làm giàu thêm.
    - Về ngôn ngữ: giao thoa trong từ ngữ sử dụng hàng ngày, giữa các địa danh
    - Về ẩm thực: một số món ăn từ cá, ốc, lươn, ếch, rắn, rùa… khó phân biệt là từ dân tộc nào → dùng chung trong các bữa tiệc
    → Sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc đi liền với quan hệ tình cảm cộng đồng. Mỗi dân tộc đều giữ được bản sắc riêng trên cở sở giao thoa, ảnh hưởng, hội nhập → làm phong phú thêm nét văn hóa bản sắc của người Việt Nam

    4.1.4. Tính lịch sử

    - Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn.
    4.2. Những chức năng cơ bản
    4.2.1. Chức năng nhận thức tự nhiên - xã hội và con người
    - Văn hoá chính là kết tinh của quá trình nhận thức của con người về thế giới tự nhiên, về các quan hệ xã hội, về bản thân mình.
    - Văn hoá hình thành theo những hệ thống nhất định, cung cấp tri thức để con người nhận thức về sự tồn tại của tự nhiên và xã hội, sáng tạo ra mọi phương tiện vật chất và tinh thần để ứng xử/ứng phó với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội - nhân văn, góp phần đáp ứng nhu cầu ổn định xã hội, tổ chức và vận hành xã hội, điều chỉnh và tạo ra động lực xã hội; xây dựng các truyền thống và bồi đắp nó trên con đường phát triển.
    4.2.2. Chức năng giáo dục của văn hoá
    - Văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người; vì con người, vì sự phát triển và hoàn thiện của con người.
    - Văn hoá được trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, mở rộng từ không gian văn hoá gia đình, dòng họ đến không gian văn hoá địa phương (vùng, miền) và không gian văn hoá dân tộc.
    - Văn hoá tạo ra sự phát triển liên tục của lịch sử, trong quá trình vận hành, nó góp phần loại bỏ những yếu tố, hành vi, hành động vô văn hoá, vô giá trị trong đời sống xã hội nói chung.
    - Chức năng giáo dục làm cho văn hoá có sự tiếp nhận, tiếp biến những cái phù hợp, đáp ứng nhu cầu xã hội, con người và chống lại sự đồng hoá, chèn ép hoặc xâm lấn của văn hoá ngoại lai.
    4.2.3. Chức năng giao tiếp của văn hoá
    Văn hoá là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người cho nên văn hoá trở thành sợi dây nối liền con người với con người, thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau, thông qua một hình thức ngôn ngữ nhất định, hoặc thông qua một tổ chức xã hội nhất định.
    4.2.4. Chức năng dự báo của văn hoá
    - Văn hoá chính là năng lực trí tuệ giúp cho con người nâng cao trình độ và khả năng sáng tạo để khám phá những quy luật của tự nhiên, của xã hội và của chính bản thân.
    - Văn hoá có thể đưa ra những dự báo cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người trong xu thế và xu hướng sẽ xảy ra hoặc có thể diễn ra.
    - Văn hoá được coi như những căn cứ cho các chiến lược về kinh tế, xã hội và định hướng xây dựng - giáo dục con người nói chung.
    II. BẢN SẮC VĂN HÓA
    1. Khái niệm Bản sắc văn hóa
    - “Bản sắc văn hóa” mang ý nghĩa chỉ cái cốt lõi, chỉ những đặc trưng riêng của một cộng đồng văn hóa trong lịch sử phát triển, tạo cơ sở cho sự phân biệt, nhận diện sự khác nhau giữa tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác.
    - Bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng mang tính bản chất, bền vững của văn hóa dân tộc, được hình thành và phát triển, bồi đắp qua quá trình lịch sử lâu dài.
    - Bản sắc văn hóa của bất kỳ dân tộc nào, đều gắn bó với lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của chính dân tộc đó.
    Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, giao lưu, tiếp biến giữa các nền văn hóa, bản sắc đó luôn có thêm những giá trị mới được hình thành và tiếp tục được bồi tụ để định hình và lộ diện, phù hợp với sự tiến hóa của lịch sử.
    - Các giá trị mang bản sắc văn hóa của từng tộc người, từng dân tộc không phải ngẫu nhiên được hình thành mà đó là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh địa lý, lịch sử và chính trị
    - Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổng kết:
    Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo
    2. Những biểu hiện của bản sắc văn hoá
    2.1. Ngôn ngữ
    - Vừa là sản phẩm, vừa là nhân tố cấu thành văn hóa.
    - Ngôn ngữ (tiếng nói,chữ viết) của mỗi tộc người hay dân tộc là dấu ấn rõ nét để nhận diện, phân biệt người của cộng đồng này với người của cộng đồng khác.
    - Trong sự giao lưu, quan hệ qua lại thì tất yếu nảy sinh quá trình du nhập các ngữ hệ và tộc người từ nơi này đến nơi khác, dẫn đến sự hoà trộn, giao thoa, hội tụ và kết tinh văn hóa - tộc người - ngữ hệ→ làm biến dạng, biến đổi ngôn ngữ hoặc tiếp biến ngôn ngữ để sinh ra một ngôn ngữ khác.
    - Ngôn ngữ là một trong những phương tiện nòng cốt để đáp ứng nhu cầu giao tiếp, nhu cầu nhận thức và các nhu cầu khác trong các quan hệ xã hội.
    Đối với các tộc người hoặc các dân tộc không có chữ viết, lời nói đóng vai trò quyết định trong việc sáng tạo văn hóa, trao truyền văn hóa, truyền thống tộc người giữa các thế hệ.
    Thông qua ngôn ngữ (lời nói, chữ viết), nhiều nét bản sắc văn hóa với các giá trị đặc trưng của văn hóa tộc người được bộc lộ, được bảo tồn và phát huy trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên - xã hội và giữa con người với nhau.
    2.2. Tập quán - Tín ngưỡng - Nghi lễ
    - Mỗi dân tộc, mỗi tộc người thường có các hệ thống tập quán, tín ngưỡng, nghi lễ của riêng mình.
    - Mức độ và trình độ nhận thức để cấu thành nên thành tố văn hóa này gắn bó chặt chẽ với truyền thống văn hóa của chính dân tộc đó.
    - Thường nhận thấy một số loại sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng - nghi lễ bộc lộ đặc trưng khác nhau giữa các tộc người, các dân tộc thiểu số:
    + Tập quán - tín ngưỡng thờ vật tổ, sùng bái tự nhiên.
    + Nghi lễ vòng đời người từ trước khi sinh ra đến sau khi mất đi.
    + Các đồ vật dùng cho nghi lễ và các hình thức tế lễ.
    2.3. Luật tục, phong tục
    - Là thiết chế văn hóa vô hình, là luật pháp riêng của cộng đồng nhằm thiết lập và được mọi thành viên tuân theo.
    - Ở mỗi dân tộc, mỗi tộc người, các điều luật tục, phong tục cũng khác nhau, thể hiện quan niệm, quan điểm của người dân trước việc quy định các sự việc, hiện tượng, điều khiển các hành vi, hành động của từng cá nhân, phục vụ mục đích bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ và ổn định, phát triển đời sống xã hội và gìn giữ an ninh cộng đồng.
    - Thông qua luật tục, phong tục ta thấy bản sắc văn hóa của từng dân tộc trong quá trình giáo dục nhân cách, đạo đức của con người theo những chuẩn mực văn hóa nhất định do cộng đồng quy định.
    2.4. Lễ hội
    - Là trung tâm sinh hoạt văn hóa mang tính tổng hợp nhất và là nơi bộc lộ rực rỡ nhất bản sắc văn hóa của một cộng đồng nhất định. Quy tụ tại đây mọi loại hình tín ngưỡng, mọi sắc thái trang phục, sinh hoạt dân ca, trò chơi dân gian, và các hình thái nghi lễ của tộc người, của dân tộc.
    - Lễ hội là nơi bảo lưu rõ nét nhất cho bản sắc văn hóa một dân tộc, một cộng đồng người trong một không gian văn hóa nhất định.
    2.5. Trang phục - trang sức
    - Trang phục là nơi thể hiện ý thức thẩm mỹ, nhu cầu thẩm mỹ và là nơi gửi gắm những nhận thức về thế giới tự nhiên và xã hội cũng như môi trường sống nói chung thông qua các biểu tượng hoa văn, màu sắc, hình ảnh được thêu trên áo, quần và các đồ trang sức khác nhau.
    - Nhìn vào trang phục và cách trang sức ta có thể dễ nhận ra bản sắc văn hóa của một tộc người, của một dân tộc.
    2.6. Trò chơi dân gian
    - Trò chơi dân gian trong đời sống, trong các hoạt động lễ tiết, lễ hội của các dân tộc cũng thể hiện những bản sắc văn hóa riêng theo quan niệm và sáng tạo của người dân, đáp ứng nhu cầu giải trí, giáo dục thể chất và truyền dạy các tri thức về tự nhiên, xã hội hay gửi gắm những khuyên răn về nhân cách, đạo đức của thế hệ trước với thế hệ sau.
    - Trong số các trò chơi dân gian, bao giờ cũng có những trò chơi nhất định được coi như “sáng tạo riêng” của một cộng đồng nhất định, được sản sinh ra sao cho phù hợp với điều kiện sống và nhu cầu của chính cộng đồng đó.
    2.7. Nhà cửa - kiến trúc
    - Ngôi nhà chính là nơi/ tấm gương phản ánh truyền thống văn hóa của một tộc người, một dân tộc. Sự hiện diện của cách kiến trúc và hình thức kiến trúc từ một ngôi nhà cụ thể không chỉ nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt, tránh mưa nắng, mà còn thể hiện những tín ngưỡng, tập tục, những nhận thức về cách ứng xử với môi trường tự nhiên và quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo.
    - Đối với các tộc người, dân tộc miền núi, bản sắc văn hóa từ sự hiện diện của loại hình văn hóa vật thể này còn thể hiện rõ cả ở những khu nhà mồ, nhà kho, nhà bếp…
    2.8. Sinh hoạt văn hóa nghệ thuật trình diễn
    - Mỗi dân tộc đều sáng tạo cho mình những thể loại dân ca với các làn điệu độc đáo, tạo nên bản sắc riêng, phản ánh tâm tư, tình cảm và đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
    - Các hình thức nghệ thuật cổ truyền, thể hiện các thủ pháp nghệ thuật đa dạng, phong phú, in đậm lối tư duy, khiếu thẩm mỹ của từng dân tộc.
    - Các hệ thống nhạc cụ được người dân sáng tạo từ nguyên vật liệu của vùng đất mình cư trú, góp phần tạo ra diện mạo của nghệ thuật âm thanh và nghệ thuật trình diễn mang bản sắc độc đáo, đại diện cho bản làng, vùng, miền, tạo ra những truyền thống âm nhạc dân tộc quý báu.
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓


    TIỀM KIẾM TÀI NGUYÊN

    Chức năng khác: Tìm kiếm Tư liệu lưu trữ trên thư viện trực tuyến Violet